Thứ 3, 30/06/2026, 18:42[GMT+7]

Ðể ngành dệt may bứt phá

Thứ 4, 06/07/2016 | 11:42:56
3,211 lượt xem
Để ngành dệt may phát triển bền vững, tỉnh đã xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ngành dệt may là 1 trong 4 nhóm ngành hàng chính được cụ thể hóa thực hiện theo giai đoạn tới năm 2030. Đây là căn cứ để định hướng phát triển, đồng thời có bước đi, giải pháp phù hợp nhằm thực hiện thành công mục tiêu phát triển ngành Công nghiệp nói chung, CNHT ngành dệt may nói riêng.

Nhà máy sợi I Công ty Cổ phần Damsan có năng lực sản xuất 3.500 tấn sợi/năm.

 

Hiện nay, ngành CNHT Việt Nam nói chung và Thái Bình nói riêng đang ở giai đoạn đầu và từng bước phát triển. Thời gian qua, CNHT ngành dệt may đã góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp dệt may phát triển, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Toàn tỉnh hiện có 234 doanh nghiệp dệt may, da giày, trong đó có 44 doanh nghiệp CNHT (5 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, 39 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước). 5 năm qua, mặc dù số lượng các doanh nghiệp dệt may, da giày tăng tương đối nhanh (74 doanh nghiệp) song số lượng doanh nghiệp hỗ trợ cho ngành này chỉ tăng 7 doanh nghiệp, trong đó thu hút được 1 doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp CNHT ngành dệt may, da giày chủ yếu sản xuất trong lĩnh vực dệt nhuộm, kéo sợi. Hiện tại có 41 doanh nghiệp hỗ trợ ngành dệt, trong đó 23 doanh nghiệp dệt nhuộm và 18 doanh nghiệp sản xuất xơ, sợi. Các doanh nghiệp dệt và sản xuất xơ, sợi chủ yếu có quy mô trung bình, một số doanh nghiệp có quy mô lớn với dây chuyền tương đối hiện đại như Công ty TNHH Hợp Thành, Công ty Cổ phần Tập đoàn Đại Cường, Công ty Cổ phần Bitexco Nam Long, Công ty Cổ phần Damsan, Công ty Cổ phần Sợi Trà Lý. Thị trường tiêu thụ sản phẩm dệt, sợi của các doanh nghiệp trên chủ yếu là châu Âu, Nhật Bản, Mỹ, Đài Loan, Trung Quốc, ngoài ra tiêu thụ một phần ở trong nước. Đây là một trong những lợi thế rất lớn trong phát triển CNHT ngành dệt may của tỉnh.

 

Đến nay, tỉnh mới có 3 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm hỗ trợ cho ngành may mặc, trong đó thu hút được 2 doanh nghiệp  nước ngoài chuyên sản xuất một số sản phẩm nhãn mác phục vụ ngành may. Một số sản phẩm như kim, chỉ khâu, dây kéo, móc áo, bao bì, nhãn mác hầu như phải nhập khẩu hoặc mua ở các tỉnh, thành phố khác. Tương tự như ngành may, đối với CNHT ngành da giày, toàn tỉnh mới chỉ có 6 doanh nghiệp sản xuất da giày, túi xách và các sản phẩm từ da. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có doanh nghiệp nào sản xuất các sản phẩm hỗ trợ cho ngành này, các phụ kiện đều phải nhập khẩu hoặc mua của tỉnh ngoài. Vì thế, giá trị sản xuất CNHT ngành dệt may, da giày thường chiếm tỷ lệ rất thấp trong giá trị sản xuất toàn ngành Công nghiệp. Năm 2015, giá trị sản xuất CNHT ngành dệt may, da giày chỉ chiếm tỷ lệ 13,8% giá trị sản xuất toàn ngành Công nghiệp, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 2,42%.

 

 

Các xí nghiệp thuộc Tổng công ty May 10 trên địa bàn tỉnh đạt lợi nhuận khá cao nhờ làm hàng FOB.

 

Như vậy, thực tế số doanh nghiệp dệt may đầu tư vào tỉnh rất nhiều song lại chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ cho ngành may mặc. Phần lớn các doanh nghiệp đều phụ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu nước ngoài nên đây là thách thức không nhỏ đối với ngành dệt may. Hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp dệt may, da giày của tỉnh chủ yếu làm gia công nên nguyên liệu sản xuất đều do đối tác cung cấp hoặc chỉ định, các doanh nghiệp không được quyền lựa chọn. Đó là một trong những điểm yếu của ngành dệt may chưa phát triển tương xứng với vị trí của ngành. Định hướng đẩy mạnh phát triển CNHT ngành dệt may chính là để các doanh nghiệp trong tỉnh đón đầu các hiệp định thương mại quốc tế, nhất là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương. Do đó, việc cần làm ngay là song song với việc kêu gọi nhà đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu, cần định hướng để các doanh nghiệp chuyển dần từ gia công sang làm hàng FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm). Trước mắt, các doanh nghiệp cần nâng cao chuỗi liên kết khép kín quy trình sản xuất từ sợi trở đi. Điều này sẽ giúp gia tăng giá trị của sản phẩm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm nhập siêu, chủ động về nguyên liệu và được hưởng lợi từ các hàng rào thuế quan mang lại. Bên cạnh đó, để sản xuất nguyên phụ liệu theo quy trình khép kín đòi hỏi phải đầu tư hệ thống xử lý nước thải hiện đại nhằm bảo đảm môi trường cũng như sức khỏe người lao động. Vì vậy, cần quan tâm xây dựng hệ thống xử lý chất thải, nước thải tại các khu công nghiệp, góp phần tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Đẩy mạnh việc thành lập và đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp ven biển để đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp dệt nhuộm, đưa những dự án dễ gây ô nhiễm như dệt nhuộm vào các khu công nghiệp ven biển kết hợp với đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý môi trường tập trung nhằm hạn chế tối đa tình trạng ô nhiễm môi trường.

 

 Thu Thủy

  • Từ khóa