Lê Quý Đôn với tư duy kinh tế và vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Nông dân xã Hồng Phong (Vũ Thư) thu hái lá dâu chăn nuôi tằm. Ảnh: Thành Tâm
(Tiếp theo và hết)
3. Lê Quý Đôn với nông nghiệp
Ông cho rằng: Để phát triển được nông nghiệp, nhất là sản xuất lúa cần phải có hiểu biết về giống cây trồng, vật nuôi, sự phân bố địa lý của các loại cây trồng, vật nuôi đó, kỹ thuật canh tác các loại nông sản này. Trong các tác phẩm Vân đài loại ngữ (1773), Phủ biên tạp lục (1776) và Kiến văn tiểu lục (1777), ông tổng kết nhiều kiến thức nông nghiệp. Trong Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn bàn về 9 nội dung: lý khí (vũ trụ luận), hình tượng (vũ trụ học), khu vũ (đại lý học gồm 93 điều), văn nghệ (48 điều), am tự (ngôn từ gồm 111 điều), thư tịch (107 điều), sỹ quy (phép làm quan gồm 76 điều) và phẩm vật. Trong phạm vi bài này, chỉ bàn đến một vài điều trong nội dung thứ chín: phẩm vật. Những kiến thức ông viết trong tập “Phẩm vật” liên quan khá nhiều đến nông nghiệp. Một số trong số đó bao gồm: 1. Vấn đề sản xuất lương thực; 2. Phát triển cây ăn quả; 3. Phát triển cây công nghiệp; 4. Các biện pháp canh tác bền vững.
Vấn đề sản xuất lương thực
Lịch sử Việt Nam gắn liền với nền văn minh lúa nước. Cây lúa là trọng tâm của nhà nông. Vì thế, ông dày công sưu tầm, hệ thống hóa các đặc điểm, kỹ thuật gieo trồng loại giống lúa ở nước ta bằng kiến thức uyên thâm, lời văn giản dị, dễ hiểu, giúp nông dân có căn cứ lựa chọn, bố trí mùa vụ, giúp các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam hiện nay có thêm căn cứ để tiếp tục theo ông, sưu tầm, bảo tồn, nhân và chọn tạo giống. Ông đã chỉ ra rằng: Ở Việt Nam có 9 bộ giống lúa chiêm, 23 bộ giống lúa mùa, 29 bộ giống lúa nếp. Mỗi bộ giống lại được chia theo các đặc tính sinh học, do đó có tới hàng trăm giống(1). Có thể kể đến đặc tính một số giống lúa mà ông đã chỉ ra như sau: “Lúa chiêm bầu, rất dễ mọc nên cấy thưa và cấy vào ruộng nhiều nước, thóc gạo to và đỏ, cơ cứng lắm”. “Lúa chiêm hạn nên cấy vào ruộng sâu, ở núi Sơn Nam hạ cấy lúa này rất nhiều và có ba giống lúa: 1. Một giống nhỏ, hạt dài, đỏ có râu; 2. Một giống hạt mọng bọt, không râu, 3. Một giống hạt to, đỏ, có râu, ưa ruộng bùn lầy. Có ba giống gạo đều trắng, nhiều nhựa, mà không ưa giã, thổi cơm lâu chín, nên cấy vào ruộng mùa.
Ông cũng chỉ ra các loại giống lúa chín sớm và khuyên nông dân nên chọn giống chín sớm để tăng được vụ, tránh được rủi ro về hạn hoặc lũ, cách phân loại này vẫn có giá trị rất lớn đến ngày nay, đặt nền tảng cho khoa học nông nghiệp phát triển và đưa nông nghiệp sang nông nghiệp thâm canh và tăng vụ từ những năm 60 của thế kỷ trước. Có thể kể đến đặc tính của 4 loại chín sớm như sau: 1. Lúa cầu: cây thấp nhỏ, hạt thóc rất đỏ, nên cấy ở ruộng cao - 48 ngày thì lúa chín, gạo thổi cơm cứng; 2. Lúa ba trăng: cũng gọi là lúa ba mùa trăng: sản xuất ở Nghệ An, từ lúc gieo hạt đến khi chín chỉ vừa vặn ba tháng, gạo trắng cơm thơm, dẻo, nhiều bột; 3. Lúa mâm son: cấy ở ruộng cao, cây nhỏ, hạt đỏ, gạo trắng, chín sớm; 4. Lúa bát ngoại (lúa chín vào tháng 8): nên cấy ở ruộng không cao, không thấp, gạo trắng hạt tròn, chín sớm.
Ông cho rằng để tăng năng suất, ông khuyến cáo các giống lúa đẻ khỏe và giống đặc bông sai hạt. Theo ông, nhóm giống lúa đẻ khỏe gồm: “Lúa tám sinh, cấy một cây mọc đến bốn, năm cây, thóc vàng sẫm, gạo trắng. Lúa mót còn gọi là tư sinh chủng, một mầm sinh ra ba, bốn cây, gạo không trắng lắm. Lúa hoa viềng, hay lúa sản phụ, một mầm đẻ bốn, năm cây, bông to mà hạt sặc sỡ, hạt vừa và vàng, đầu nhọn, chấm đen, gạo trắng”. Theo ông, giống lúa đặc bông sai hạt là lúa Di nên cấy vào ruộng cao nhiều màu, cây thấp, lá thẳng, bông đặc, thóc nhiều, hạt dẹt nhỏ mà nhẵn, gạo trắng, nở cơm, thổi bốn đấu bằng năm đấu gạo khác. Tư tưởng sử dụng giống lúa năng suất cao của ông đã giúp nông nghiệp Việt Nam vượt qua sự thiếu đói về lương thực và trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Ông cũng nghiên cứu rất kỹ nền canh tác lúa ở các vùng khó khăn như vùng bị hạn, vùng đất dốc. Ông khuyến cáo, ở các vùng khô hạn, đất dốc nên trồng các giống lúa chịu hạn. Với ông, giống chịu hạn gồm: “Lúa lốc, một mầm nảy ba, bốn cây, ưa đất núi, thóc vàng, gạo trắng sạm, chín sớm, thường trồng ở miền núi. Lúa mô: trồng ở Thái Nguyên, nên trồng ở đồi núi, đốt rẫy lấy tron bán, tháng 2 trồng, tháng 6 gặt, cây tốt, bông to, hạt nhỏ, gạo đỏ. Lúa này nên được cấy ở đất bãi ngoài đê, cách cấy trồng như trồng ngô”. Cách chỉ dẫn này đơn giản, nông dân dễ làm theo, ngày nay vẫn còn nguyên giá trị vì Việt Nam có tới 3/4 diện tích là đất đồi núi, trung du với địa hình dốc và đang đương đầu với tình trạng hạn hán kéo dài do biến đổi khí hậu.
Từ rất sớm, ông đã nhìn nhận được mối quan hệ giữa năng suất và chất lượng sản phẩm. Ông cho rằng: bên cạnh trồng giống sai hạt, chịu hạn thì phải có các giống chất lượng cao như giống lúa thơm, lúa nếp. Ông chỉ ra đặc điểm của giống lúa thơm như sau: “Lúa tám xoan, ưa ruộng cao, cây cao, bông dài mà mềm, hạt thưa mà nhỏ, hơi dài, sắc vàng, gạo rất trắng mà thơm. Lúa cánh cây mọi màu: hạt thóc dẹp, có hai tai, chín sớm, gạo trắng, hương thơm, khi mạ đã mọc, người ta đi qua, cách năm bước đã ngửi thấy hương thơm”. Các giống lúa thơm và dẻo là lúa nếp: “Lúa nếp có loại chuyên dùng làm cốm, gọi là lúa cốm, hạt to tròn, sắc vàng, gạo trắng thơm, chín vào tháng 8 ta. Nếp thanh hãn cây xanh hạt to, sắc trắng, lông tơ dài, chín rất sớm, sắc dễ biến đổi, nấu rượu rất ngon”. Quan điểm về tăng chất lượng và giá trị của nông sản của Lê Quý Đôn có từ rất sớm. Tuy nhiên, trong nhiều chục năm thiếu đói, nông nghiệp Việt Nam chủ yếu chạy theo năng suất, ít chú trọng đến chất lượng. Đến nay, nông nghiệp Việt Nam phải chuyển từ nông nghiệp chạy theo sản lượng sang nông nghiệp chất lượng với giá trị hàng hóa cao. Muốn làm được điều đó, phải coi trọng các giống cây trồng có chất lượng các nhà nông học Việt Nam vẫn đang bước tiếp con đường mà Lê Quý Đôn đã mở để chọn tạo giống có chất lượng cao, cho năng suất và thích ứng khí hậu lạnh, nóng, hạn và úng. Tư tưởng này Lê Quý Đôn đã chỉ ra rất rõ trong tác phẩm Vân Đài loại ngữ.
Ông cũng chỉ ra các nguồn gốc của các biện pháp chế biến nông sản như phương pháp nấu rượu được truyền bá từ thời Tống, thời Nguyên. Hoặc nguồn gốc các giống ngô như: “Hồi đầu thời Khang Hy (1662 - 1723), Trần Thế Vinh, người huyện Tiên Phong (Sơn Tây) sang sứ nhà Thanh mới lấy được giống ngô đem về nước. Suốt cả đất Sơn Tây, nhờ có ngô thay cho cơm gạo. Ngô trồng ở Nghệ An, phần nhiều là giống ngô trắng. Ngô trồng ở Lạng Sơn có đủ năm sắc(2).
Kỹ thuật và canh tác cây ăn quả
Lê Quý Đôn là người đầu tiên ở Việt Nam đã hệ thống hóa các loài cây trồng, giống cây trồng không những với nhóm cây lương thực mà còn cho nhóm cây ăn quả như chuối và cam. Đây là nền tảng đầu tiên về khoa học cây ăn quả được xuất bản thành sách một cách có hệ thống. Ông tổng kết, ở nước ta thời bấy giờ có 8 loại chuối với các đặc tính khác nhau: Ở Giao Chỉ có mấy giống chuối: Chuối lùn hay tiêu (quả to, vỏ xanh, vị ngọt, hơi chua), Chuối tiêu còn gọi là tanh tiêu (quả to, vỏ cũng xanh, múi thịt, nục nạc, vị ngon lắm, Chuối tay bụt hay phật tiêu (quả to, vị vàng, dáng hơi đẫy đà, vị ngọt), Chuối mỏ giang (quả như chuối lá, mà dài hơn, hơi chua), Chuối lá cây hay chuối mắn (quả nhỏ, vỏ vàng nhạt, thịt nhũn, ngọt sắc), Chuối tai mèo (quả nhỏ, dày vỏ, vị nhạt), Chuối hột (quả to, vỏ vừa xanh vừa vàng, thịt có nhiều bột, rất ngọt), Chuối rừng (cây nhỏ mà lùn, ít khi được ăn quả). Các thứ cây chuối kể trên, lá, hoa, quả đều không giống nhau, nhiều nhà đều trồng cả”(3).
Ông còn chỉ ra: “Ở nước Nam ta có nhiều thứ cam: Cam sen (da trơn như vỏ ốc), Cam vú (da sần mà vị rất ngon), Cam chanh (da mỏng và mỡ, vừa chua vừa ngọt thanh), Cam sành (da dày và vị chua), Cam mật (da mỏng, vị ngọt), Cam giấy (da rất mỏng, sắc hồng, trông đẹp mà vị chua), Cam động dinh (quả to, vỏ dày, chua lắm). Muốn để cam giấy được lâu nên lấy đậu xanh phủ kín, lâu không biến sắc, vì tính quit nhiệt, mà đậu xanh thì mát cho nên để được lâu”(4).
Phát triển cây công nghiệp
Lê Quý Đôn cũng tổng kết các đặc tính và kỹ thuật trồng các cây công nghiệp như cây mía và cây bông, làm cơ sở cho phát triển các loại cây này cho đến tận ngày nay. Ông viết: “Người ta dùng mía trắng để chữa chứng cách nhiệt, Mía tía gọi là mía Côn Lôn, để bó chân tay bị gẫy. Thứ mía nhỏ và khô thì gọi là Trúc giá, là một giống mía mọc như lau sậy, vỏ cứng đốt ngắn, không ăn được, chỉ để ép làm đường. Mía trồng vào tháng 2, mà phải trồng chéo gốc thì cây mới mọc chóng. Gốc mía trồng chéo gốc thì là có nhiều đợi, khi ra mầm lại trồng lại thành cây, cứ chiều đến thì làm hết phấn, bóc hết bẹ thì mía mới tốt”. Mía trồng một hai năm lại đẫn đi trồng chuối, ba bốn năm sau lại đẫn hết chuối đi trồng mía. Mía được đất chuối trồng cũ thì tốt và ngọt, trồng xen thêm khoai củ thì đều được thơm ngon”(5).
Về cây bông, ông viết: “Huyện Yên Định ở Giao Châu có cây bông cao hơn một trượng, quả nó như cái chén uống rượu, da mỏng, trong ruột như mối tơ, sắc trắng lạnh, làm vải được”. Xét ra cổ nhân gọi vải là thứ dệt bằng gai với sắn, mãi sau này mới có giống mộc miên (cây bông) từ ở Nam Phiên đưa lại thì mới đủ may mặc cho nhân dân bốn biển, lợi khắp mọi nơi”(6).
Các biện pháp canh tác nông nghiệp bền vững
Bên cạnh việc phân loại các đặc tính cây trồng ở trên, Lê Quý Đôn đã tổng kết các biện pháp canh tác mở đầu cho khoa học luân canh cây trồng với cây họ đậu, canh tác trên đất cát, một cách bền vững, hạn chế hoặc không dùng hóa chất - một nền nông nghiệp hữu cơ mà chúng ta mong muốn xây dựng như ngày nay. Ông chỉ ra: “Phép làm cho ruộng tốt, thì nên trồng đậu xanh trước đã, thứ đến đậu nhỏ và vừng. Các thứ ấy trồng về tháng 5, tháng 6. Đến tháng 7, tháng 8 thu hoạch xong cày bừa lật úp xuống, làm ruộng, đồng lúa cho mùa xuân năm sau, thì mỗi mẫu thu được 10 thạch thóc. Những cây đậu và vừng, cày bừa lên như thế, sẽ bón cho ruộng tốt ngang với bón phân tằm hay phân người”(7).
Kết luận
Lê Quý Đôn là nhà bác học uyên bác, không những về lịch sử, địa lý, văn học mà còn về kinh tế và nông nghiệp. Ông đã đề xuất tư duy kinh tế để xây dựng một nền kinh tế - xã hội phát triển bền vững, đặt nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế nước ta ngày nay. Ông cũng là nhà khoa học lớn, đặt nền tảng cho sự phát triển nông nghiệp bền vững, an toàn và hiệu quả. Theo Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn là người “Học vấn bao hàm, xem rộng khắp hết sách vở, nhờ thơ văn mà thi chiếm bảng đầu. Ông là người có kiến thức mênh mông, đồ sộ, lại sở trường bậc nhất về trước thuật (viết sách). Không có sách nào không soạn, sao lục, biện luận. Thật sừng sững là danh nho của cả một đời…”(8).
(1) Viện Xã hội học, Lê Quý Đôn và nông nghiệp, Xã hội học số 2 - 1984, trang 102 - 1105, os.vass.gov.vn/noidung/tapchi/documents/baitapchi/…/so2/so2_1984_H.T.pdf, truy cập ngày 15/7/2016.
(2) Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Vật phẩm 156.
(3) Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Vật phẩm 195.
(4) Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Vật phẩm 208.
(5) Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Vật phẩm 135, 196.
(6) Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Vật phẩm 112.
(7) Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Vật phẩm 162, 152.
(8) Phan Huy Chú, Nhân Vật Chỉ, trang 391.
| Ông Phạm Văn Xuyên, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh
...Ngành Nông nghiệp cần chủ động tăng cường các giải pháp để sớm khôi phục sản xuất nông nghiệp. Các phương án chống ngập úng phải được triển khai quyết liệt và đồng bộ. Chú trọng chỉ đạo thực hiện phương án ngâm ủ và gieo mạ để gieo cấy lại diện tích lúa bị chết do ngập úng. UBND tỉnh yêu cầu ngành Nông nghiệp nhanh chóng cấp phát giống hỗ trợ cho nông dân để kịp thời gieo cấy, kiên quyết không để tình trạng ruộng bỏ hoang, đồng thời bằng mọi biện pháp khôi phục sản xuất thủy sản, chăn nuôi, nhanh chóng khắc phục sự cố đê, kè, cống, góp phần bảo đảm yêu cầu trong sản xuất nông nghiệp.
Ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục chỉ đạo các đơn vị tăng cường cán bộ xuống địa phương, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn nông dân các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây trồng, vật nuôi. Chỉ đạo các đơn vị phối hợp chặt chẽ với các địa phương rà soát, thống kê chính xác những thiệt hại do bão gây ra, đồng thời sớm tham mưu để UBND tỉnh ban hành kịp thời các cơ chế, chính sách hỗ trợ khôi phục sản xuất nông nghiệp. Ông Trần Minh Tiến, Phó Chủ tịch UBND huyện Tiền Hải
Cương quyết không để tình trạng ruộng bỏ hoang, đến ngày 1/8, huyện đã cấp phát 60 tấn giống lúa hỗ trợ nông dân sản xuất. Đề nghị tỉnh và ngành Nông nghiệp có giải pháp, quy định, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng trong việc phân cấp quản lý đê điều để các địa phương chủ động trong việc tu sửa đê, kè, cống thuộc quyền quản lý, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ đê điều. Các cấp, các ngành cần nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong hỗ trợ khắc phục hậu quả của bão số 1 một cách sát thực tế, hiệu quả như hỗ trợ giống lúa, rau màu… |
Tin cùng chuyên mục
- Đưa Hưng Hà trở thành trung tâm kết nối tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh 28.01.2025 | 22:50 PM
- Về nơi thành lập Tỉnh đội Dân quân Thái Bình 09.12.2024 | 10:13 AM
- Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn: Nguồn cảm hứng về tinh thần hiếu học 06.10.2024 | 17:20 PM
- Lời thề yêu nước 09.07.2024 | 10:56 AM
- Hoàng Kỳ - người chiến sĩ cộng sản kiên trung 30.06.2024 | 23:35 PM
- Ký ức hào hùng của chiến sĩ Điện Biên 05.05.2024 | 19:35 PM
- Hai cây đại cổ - linh hồn của làng quê Đồng Thanh 26.04.2024 | 13:47 PM
- Gắn kết hai vùng quê danh tướng 03.04.2024 | 10:07 AM
- Người cầm cờ trong buổi lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân 15.12.2023 | 17:48 PM
- Khắc ghi lời Bác dạy, phát triển nông nghiệp hiện đại, nông thôn văn minh, nông dân giàu có 25.10.2023 | 09:01 AM
Xem tin theo ngày
-
Đặc sắc chương trình nghệ thuật kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và chào mừng hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình
- Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến thăm làm việc tại phường Phố Hiến
- Công bố nghị quyết, quyết định của Trung ương, địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã và kết thúc hoạt động cấp huyện
- Báo Thái Bình - Một hành trình với những mốc son lịch sử
- Thư tòa soạn
- Công bố quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an, Giám đốc Công an tỉnh về công tác tổ chức, cán bộ
- Khởi công dự án nhà máy đốt chất thải rắn phát điện công nghệ hiện đại tại xã Thụy Trình
- Khởi công dự án đầu tư xây dựng sân golf Cồn Vành và dự án đầu tư xây dựng khu bến cảng hàng lỏng Ba Lạt
- Việt Nam nâng tầm vị thế tại Hội nghị quốc tế về biển và đại dương
- Hội thảo khoa học: Đồng chí Nguyễn Văn Linh – Nhà lãnh đạo kiên định, sáng tạo của Đảng và cách mạng Việt Nam

