Thứ 3, 30/06/2026, 16:22[GMT+7]

Nơi Bác về thăm: Ngày ấy... bây giờ

Thứ 2, 10/08/2015 | 10:02:12
2,063 lượt xem
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 5 lần về thăm Thái Bình. Mỗi lần về, Người đều để lại tình cảm đặc biệt cùng những lời di huấn thiêng liêng cho cán bộ và nhân dân tỉnh nhà. Kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, bắt đầu từ số này, Báo Thái Bình chủ nhật đăng loạt bài của nhà báo Trần Nam (Đài Phát thanh Truyền hình Thái Bình) về những nơi Bác Hồ đã về thăm với nhan đề: Nơi Bác về thăm ngày ấy... bây giờ.

Ông Trần Duy Sự bên gốc khế trồng đúng ngày Bác mất để tưởng nhớ công ơn của Người.

 

Hồng An một năm hai lần đón Bác

 

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, cũng như các địa phương khác trong cả nước, Thái Bình đứng trước muôn vàn khó khăn: gần 30 vạn người chết đói, 500 quân Tưởng kéo vào, quấy phá. Khi biết tin đê Đìa, huyện Hưng Nhân (nay là huyện Hưng Hà) và đê Mỹ Lộc, huyện Thư Trì (nay là huyện Vũ Thư) bị vỡ, làm ngập cả 8 huyện, thị xã, ngày 10/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Hưng Yên đến thăm Thái Bình. Đây là lần đầu tiên Đảng bộ và nhân dân Thái Bình được đón Bác. Đến thăm đoạn đê Đìa bị vỡ, trước đông đảo đồng bào Thái Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên và nhắc nhở nhiệm vụ trước mắt là phải đắp lại đê và cứu đói. Bác hứa khi nào đắp đê xong Bác sẽ về thăm.

 

Giữ đúng lời hứa, khi biết tin nhân dân Thái Bình chỉ trong 3 tháng đã khắc phục được hậu quả 2 quãng đê bị vỡ, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Thái Bình lần thứ hai. Đó là ngày 28/4/1946.

 

Giúp chúng tôi tìm và gặp lại những nhân chứng ở xã Hồng An, huyện Hưng Hà từng được gặp Bác Hồ năm xưa là ông Đường Khắc Thủy, cán bộ xã và hai cán bộ thôn Việt Thắng. Ông Thủy được ví là người chịu đọc, chịu học, chịu hỏi các cụ cao niên trong làng về lịch sử nên việc liên hệ diễn ra khá thuận lợi. Người đầu tiên chúng tôi được gặp là ông Trần Duy Sự, thương binh hạng 2/4.

 

Được gặp ông, nghe ông kể chuyện, nhiều người không thể tin rằng ông Trần Duy Sự đã gần 90 tuổi mà đôi mắt còn tinh anh lắm. Mái tóc trắng như cước, nước da hồng nhuận, giọng nói sang sảng, trí nhớ tuyệt vời... đã khắc họa chân dung một xã đội trưởng vang tiếng thời chống Pháp. Một Trần Duy Sự gan dạ, giỏi võ nghệ, biết binh pháp, hiểu cả Nho - Y - Lý - Số. Theo lời ông Sự kể thì tất cả những kiến thức mà ông có được là do ông tự học, tự rèn theo lời dạy của Bác Hồ khi 2 lần Người về Hồng An thị sát đê vỡ và động viên đồng bào Thái Bình đắp đê mà ông là người được trực tiếp nghe.

 

Câu chuyện ông Sự kể về kỷ niệm thời kháng chiến 9 năm hào sảng bao nhiêu thì khi chúng tôi nhắc đến dấu ấn những lần ông được đón Bác Hồ giọng ông lại trầm lắng bấy nhiêu. Bên trong đôi mắt in dấu thời gian là những giọt nước mắt chực tuôn vì xúc động. Xúc động ngoài lẽ đương nhiên: Bác là vị lãnh tụ thiên tài, trọn đời yêu nước, thương dân vô bờ bến, ông Sự khóc vì hình ảnh Bác năm 1946 khi về thăm quê ông. Ngày ấy, trông Bác rất gầy và xanh. Ai gặp cũng đều thương Bác. Ông Trần Duy Sự kể: Bác về với dân quá bình dị. Bác đứng giữa, mọi người vây quanh. Điều kỳ lạ là đông người như vậy nhưng tất cả đều im phăng phắc. Bác trìu mến nhìn mọi người rồi ôn tồn nói: Muốn đắp đê tốt phải dựa hẳn vào dân. Dựa vào dân là có gạo, có tre. Cán bộ phải xung phong, gương mẫu. Về kỹ thuật đắp đê, phải học hỏi kinh nghiệm của dân, phải dựa vào cán bộ kỹ thuật. Nhiệm vụ của đồng bào lúc này là chống giặc đói. Mọi người trồng thêm ngô, khoai, sắn để chống đói. Chống được giặc đói, giặc lụt là thiết thực cùng đồng bào cả nước chống giặc ngoại xâm. Mọi người già trẻ, lương giáo, thành thị, nông thôn phải đoàn kết. Đoàn kết thì việc gì cũng thành công.

 

Nhà ông Trần Duy Sự trồng nhiều cây cảnh nhưng có giá trị nhất là cây khế do chính tay ông trồng đúng ngày 2/9/1969. Chỉ cho chúng tôi xem cây khế quý, ông Sự bảo, ông trồng cây khế này để ghi nhớ ơn sâu, nghĩa nặng và hình bóng vị Cha già dân tộc trong tim mình. Bởi Bác Hồ là cả nước non, là cả quê hương, mà quê hương trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam như ông là chùm khế ngọt. Có người đã trả ông cả trăm triệu đồng để mua cây khế quý nhưng ông kiên quyết không bán và coi đây là vật gia bảo!

 

Tiễn chúng tôi ra tận đầu con đường giao thông nông thôn mới được đổ bê tông theo tiêu chí nông thôn mới, ông Trần Duy Sự không quên dặn chúng tôi: Đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc bình sinh từng nói: Người 70 tuổi tính bằng năm. Người 80 tuổi tính bằng tháng. Người 90 tuổi tính bằng ngày. Các đồng chí về thăm, tìm hiểu, ghi chép lại lịch sử là rất quý. Nếu muộn, sẽ không kịp đâu!

 

Vâng! Cái điều không kịp ấy mà ông Sự nhắc chúng tôi là thời gian và tuổi tác, chúng không chờ một ai. Trách nhiệm của hậu thế là khơi dậy quá khứ tự hào của cha ông để mỗi khi nghĩ về Bác là lòng ta trong sáng hơn. Đó cũng là hành trang đi tới tương lai, xứng đáng với tình thương yêu mà cả một đời Bác dành cho Đảng, cho dân.

Cùng thời, cùng được gặp Bác Hồ năm 1946 với ông Trần Duy Sự là ông Trần Hữu Hán - nhân chứng đặc biệt thứ hai ở xã Hồng An.

 

Trong hồi ức mà ông được chứng kiến thời khắc lịch sử năm 1946 khi đón Bác Hồ về thăm đê Đìa, xã Tân Thịnh, rồi Hồng Hà và nay là Hồng An, ông Hán không nén được xúc động khi có người khơi gợi lại kỷ niệm thiêng liêng năm nào. Trầm tư hồi lâu, ông kể: Nghe tin Bác về, mọi người quên cả đói, quên cả mệt. Ai cũng muốn đứng gần Bác. Bác nói chuyện không dài nhưng thấm thía. Bác bảo: Việc lớn, việc nhỏ, lúc nguy nan mà các cô, các chú biết dựa vào dân; thời bình biết lo cho dân có cơm no, có áo ấm thì công việc khó đến mấy cũng thành công. Nhiệm vụ trước mắt là đồng bào cần cố gắng đắp đê, bảo vệ đê cho thật tốt.

 

Người dân còn biết đến ông Hán bởi khả năng nói, viết tiếng Pháp, tiếng Trung của ông thật đáng nể. Trong hồi ức của mình, ông Hán bảo, trình độ ngoại ngữ mà ông tích lũy được là do ông từng là kỹ sư thủy lợi, lại có ý thức tự học theo gương Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà có. So với người ngoài thì chẳng thấm vào đâu nhưng tại gia thì đủ khả năng để dạy con cháu biết đạo làm người. Để chứng minh, ông Hán cho chúng tôi xem ba tập sách chép tay từ các bài báo viết về Đảng, về Bác Hồ, về những sự kiện quan trọng của đất nước, của tỉnh Thái Bình và của huyện Hưng Hà mà mấy chục năm qua ông cần mẫn ghi lại, không thiếu một chi tiết nào. Ông Đường Khắc Thủy cho chúng tôi biết, kể cả cán bộ huyện khi cần tra cứu thêm thông tin cũng đều đến nhà cụ Hán để hỏi và mượn sách. Cụ là kho tư liệu sống của địa phương.

 

Nhân chứng thứ ba được gặp Bác năm 1946 ở xã Hồng An là ông Trần Hữu Thảo, nguyên cán bộ Văn phòng Tỉnh ủy Thái Bình. Tuổi đã cao nhưng ông vẫn còn minh mẫn lắm. Trước khi đến nhà, ông Đường Khắc Thủy tiết lộ với chúng tôi: Cụ Thảo kể chuyện về Bác Hồ không nhầm một chi tiết nào, rất hào hứng và xúc động. Bởi vậy mà khi biết tin có đoàn làm phim về Bác Hồ đến tìm hiểu và gặp nhân chứng, ông Thảo nhất định phải đưa chúng tôi lên tận đê Đìa. Giọng nói của ông chùng xuống khi hình ảnh Bác Hồ về thăm Hồng An năm 1946 hiện về. Ông Thảo xúc động kể lại: Khi dừng chân trên đê Đìa, Bác rất buồn. Bác lặng nhìn về phía làng mạc bị lũ lụt tàn phá tiêu điều, xác xơ. Bác trầm ngâm hồi lâu. Ai cũng hiểu nỗi lòng vị Cha già dân tộc. Bác thương nhân dân Thái Bình vừa bị chết đói gần 30 vạn người nay lại bị lũ lụt tàn phá khắp cả 12 phủ huyện. Người lo làm sao gỡ nhanh nỗi khó khăn cho nhân dân.

 

Bác đứng giữa mọi người như sống trong lòng nhân dân. Bác gầy và rất xanh. Ai nhìn cũng thương Bác, lo cho sức khỏe của Bác. Bác gặp và nói chuyện với nhân dân chỉ khoảng hai mươi phút mà chan chứa tình dân - nghĩa đảng. Thấm thía lắm các đồng chí ạ.

 

Theo thời gian, nhân chứng của hai lần Thái Bình được đón Bác năm 1946 nay người còn, người mất nhưng đối với Đảng bộ và nhân dân địa phương, đây là dấu ấn không bao giờ phai mờ, là tư liệu lịch sử vô giá được lưu giữ. Gần 70 năm sau kể từ ngày Bác Hồ về thăm, đê Đìa và đê Mỹ Lộc ngày nào nay dưới bàn tay lao động của con người đã trở nên vững chãi hơn bao giờ hết, nhất là khi chúng ta đã trị thủy sông Hồng thành công. Điều đặc biệt ý nghĩa là Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hồng An đã biến mong ước của Bác thành hiện thực. Ông Bùi Hữu Nhàn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hồng An khẳng định với chúng tôi: Hồng An coi lời dạy của Bác là di sản vô giá, hiện thực hóa thành việc làm cụ thể: trở thành xã nông thôn mới. Xã đã xây dựng cánh đồng trồng chuối Tây Hồng thương phẩm rộng gần 150ha. Đây là giống chuối cho năng suất cao, chất lượng tốt, chủ yếu dành cho xuất khẩu. Nhiều hộ dân đã thoát nghèo và trở thành triệu phú, tỷ phú nhờ trồng chuối bởi trung bình 1ha chuối cho thu nhập từ 350 - 400 triệu đồng/năm.

 

Ông Trần Ngọc Khang, Bí thư Chi bộ thôn Việt Thắng, xã Hồng An tự hào: Thôn chúng tôi vinh dự được 2 lần đón Bác Hồ về thăm. Hiếm có nơi nào được như vậy nên mỗi cán bộ, đảng viên trong thôn luôn gương mẫu đi đầu trong phong trào thi đua lao động, sản xuất, làm giàu chính đáng để quần chúng nhân dân học tập, làm theo, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp đổi mới của đất nước.

 

Lời Bác dặn trong hai lần về thăm cách đây gần 70 năm là nguồn cổ vũ, động viên, là sức mạnh tinh thần để Hồng An nói riêng, Hưng Hà nói chung vượt khó vươn lên. Các xã về đích nông thôn mới mà Hưng Hà phấn đấu đạt được trong thời gian qua là hiện thực sinh động nhất, minh chứng cho tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết, sáng tạo, vượt khó vươn lên của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hưng Hà - vùng quê văn hiến, văn hóa, vùng đất địa linh nhân kiệt.

 

Cùng với các xã trong huyện, Hồng An đã về đích nông thôn mới trong năm 2014. Đảng bộ xã nhiều năm liền được công nhận trong sạch, vững mạnh, chính quyền vững mạnh xuất sắc. Có được kết quả đó là nhờ tinh thần đoàn kết, vượt khó, dám nghĩ, dám làm của mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân nơi đây. Nhưng thiêng liêng nhất vẫn là do các thế hệ đã biết truyền sức mạnh tinh thần của Bác Hồ qua 2 lần Người về với nhân dân Hồng An làm nguồn cổ vũ, động viên giúp hậu thế lấy đó làm điểm tựa, quyết chí vươn lên xây dựng cuộc sống mới.

(Còn nữa)

 

Trần Namon>

Đài Phát thanh Truyền hình Thái Bình

  • Từ khóa

Tin cùng chuyên mục

Xem tin theo ngày