Thứ 7, 27/06/2026, 23:12[GMT+7]

Mô hình trường học mới - giới hạn hay nhân rộng (Tiếp theo và hết)

Thứ 3, 25/10/2016 | 08:42:45
821 lượt xem
Những ưu điểm của VNEN đã được khẳng định, tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện VNEN cũng xuất hiện không ít khó khăn, hạn chế. Phát huy ưu điểm, khắc phục khó khăn, hạn chế để VNEN thực sự mang lại sự đổi mới hiệu quả trong giáo dục, đó là sự kỳ vọng mà toàn xã hội đang đặt lên vai đội ngũ nhà giáo và ngành Giáo dục và Đào tạo.

Kỳ II: ÁP DỤNG LINH HOẠT CÁC THÀNH TỐ CỦA MÔ HÌNH VNEN

Hiểu đúng, áp dụng linh hoạt

Năm học 2015 - 2016, huyện Thái Thụy có một trường tiểu học, một trường THCS áp dụng mô hình VNEN. Năm học 2016 - 2017, toàn huyện đã mở rộng lên 11 trường tiểu học, 6 trường THCS áp dụng mô hình này. Ông Bùi Ðức Thụy, Phó Trưởng phòng Giáo dục và Ðào tạo huyện cho biết, qua quá trình triển khai VNEN, khó khăn đối với các trường là cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu dạy và học; với những lớp đông học sinh, việc giáo viên phải quan sát, hướng dẫn cho từng nhóm cũng có nhiều hạn chế; học sinh mới tiếp cận với hoạt động của hội đồng tự quản nên còn nhiều bỡ ngỡ. Ðây không chỉ là khó khăn của riêng Thái Thụy mà cũng là khó khăn chung của nhiều trường học khi triển khai VNEN bởi về nguyên tắc, để triển khai VNEN một cách hiệu quả, mỗi trường phải đáp ứng được các yêu cầu về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, sĩ số học sinh (bảo đảm lớp không quá đông, khoảng 30 học sinh/lớp).

Mặc dù vậy, những cái khó do cơ sở vật chất hay sĩ số học sinh cũng chưa khó gỡ bằng cái khó trong tư tưởng của cán bộ, giáo viên, phụ huynh học sinh. “Lớp học ngồi theo mâm”, “để học sinh tự học” là những cái nhìn chưa tích cực, chưa đầy đủ về VNEN. Qua trao đổi và tìm hiểu thực tế tại các trường học trong tỉnh, mặc dù học sinh hào hứng với việc học theo mô hình VNEN song về phía giáo viên lại khá dè dặt. Chỉ có những giáo viên đã qua tập huấn mới thực sự thích VNEN, còn lại, một bộ phận không nhỏ giáo viên vẫn chưa hứng thú, nhiều e ngại với mô hình này. Việc hiểu và vận dụng chưa đúng về VNEN trong cán bộ, giáo viên và trong công tác quản lý dẫn đến việc áp dụng VNEN ở một số trường, ở một bộ phận giáo viên, trong không ít giờ dạy vẫn chỉ là “bình mới, rượu cũ”, hình thức, nửa vời dẫn đến không mang lại hiệu quả thực sự. Một ví dụ điển hình: Trong việc thành lập hội đồng tự quản, các ban, nhóm tại các lớp học, theo hướng dẫn, học sinh sẽ được tự bầu và khuyến khích thay đổi, bầu lại theo tháng, theo kỳ học song trên thực tế việc bầu này tại các lớp học vẫn chưa trao quyền về học sinh mà chủ yếu vẫn do giáo viên chủ nhiệm chỉ định. Giáo viên cũng không chỉ đạo các em bầu lại hội đồng tự quản, luân phiên các em trong nhóm giữ vị trí trưởng nhóm nên việc tổ chức các hoạt động trong nhóm, tập thể lớp vẫn chủ yếu do một số bạn thực hiện dẫn đến hình thức, cứng nhắc. Không được tin tưởng, không được trao cơ hội điều hành mà cơ hội này vẫn dành cho một số bạn có khả năng nổi trội trong lớp, vì vậy, trong lớp hình thành hai đối tượng học sinh “hoạt náo” và “chầu rìa”. Vì phương pháp học này là trao quyền tự học cho học sinh nhiều hơn nên đối với giáo viên chưa có sự tâm huyết, chưa thực sự có chuyên môn giỏi trong hướng dẫn học sinh học, chưa chủ động, linh hoạt trong việc hướng dẫn phù hợp với từng đối tượng học sinh nên chỉ có các em có ý thức tự học cao mới tiếp nhận được kiến thức mới dẫn đến các em đã yếu càng yếu. Bên cạnh đó, theo nhận xét của nhiều giáo viên, việc triển khai VNEN hiện nay cũng có khá nhiều bất cập như: sách giáo khoa 3 trong 1 (dành cho cả giáo viên, học sinh, phụ huynh) chưa thực sự phù hợp; các bài học trong sách giáo khoa mang tính tích hợp nhưng vẫn còn rập khuôn, lặp đi lặp lại, hạn chế tư duy sáng tạo của học sinh; thời gian cho một tiết học ngắn trong khi phải bảo đảm thời gian cho học sinh tự nghiên cứu, thảo luận dẫn đến ít có thời gian cho giáo viên hướng dẫn. Bên cạnh đó, do việc triển khai VNEN hiện nay chưa đồng bộ, chỉ mới triển khai ở số ít trường cùng với chương trình học VNEN được đánh giá nhẹ hơn so với chương trình đại trà nên nảy sinh tâm lý lo ngại khi thi cử, thiếu yên tâm của các trường đang áp dụng VNEN, đặc biệt là các trường THCS.

Không ngại đổi mới để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

Cô giáo Giang Thị Ðiệp, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Thái Hồng (Thái Thụy) nhận định: Với những nơi triển khai áp dụng mô hình VNEN nhưng chưa hiệu quả có lẽ do đã áp dụng mô hình một cách quá cứng nhắc, không có sự linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế. Tại Vũ Thư, ông Nguyễn Ngọc Quang, Phó Trưởng phòng Giáo dục và Ðào tạo huyện cho biết, về hình thức, mặc dù không nhân rộng số trường học VNEN song tại bất kỳ trường học nào trên địa bàn huyện đều mang dấu ấn của VNEN, đó chính là sự áp dụng linh hoạt của Vũ Thư trong quá trình triển khai mô hình này. Ðến nay, 100% trường tiểu học trên địa bàn huyện đều áp dụng những thành tố tích cực của mô hình như đổi mới không gian lớp học, thành lập hội đồng tự quản với mong muốn tăng cường giáo dục tính tự giác, độc lập, nâng cao kỹ năng sống cho học sinh.

Học sinh Trường Tiểu học Thái Hồng (Thái Thụy) học theo mô hình VNEN.

Hiểu đúng hơn về VNEN để áp dụng linh hoạt VNEN sẽ mang lại hiệu quả dạy và học vượt trội, đó là kinh nghiệm của những trường được đánh giá cao trong áp dụng VNEN. Năm học 2016 - 2017 có thêm 70 trường tiểu học trong tỉnh đăng ký áp dụng mô hình trường học mới VNEN. Tuy nhiên, qua quá trình khảo sát, ngành Giáo dục nhận thấy chỉ có 67 trường đủ điều kiện và đã đồng ý để 67 trường này triển khai mô hình VNEN. Năm học 2016 - 2017, Bộ Giáo dục và Ðào tạo đã có chỉ đạo khuyến khích các trường áp dụng các thành tố tích cực của VNEN phù hợp với điều kiện thực tế. Chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Ðào tạo được đánh giá là kịp thời và đã gỡ khó cho các trường, đồng thời cũng cho thấy việc áp dụng VNEN tại nhiều trường học và ngành Giáo dục Thái Bình là đúng hướng và linh hoạt.

Ông Ðặng Phương Bắc, Giám đốc Sở Giáo dục và Ðào tạo phân tích: Ngay một lúc đòi hỏi hơn 6.000 giáo viên của 295 trường tiểu học trong toàn tỉnh có thể chủ động áp dụng phương pháp dạy học mới là điều không đơn giản bởi vốn dĩ phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu bám rễ, tạo thành thói quen khó bỏ của nhiều người, chưa kể một bộ phận không ít giáo viên ngại thay đổi, khả năng cập nhật công nghệ thông tin, ứng dụng hiện đại của phương pháp dạy học mới còn nhiều hạn chế. Song với định hướng áp dụng linh hoạt, không hình thức, không chạy theo thành tích, ngành Giáo dục vẫn khuyến khích các trường áp dụng các thành tố tích cực của VNEN và sẽ tiếp tục nhân rộng mô hình trong những năm học tới. Ðể áp dụng linh hoạt VNEN phụ thuộc vào nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, giáo viên và sự ủng hộ của mỗi bậc phụ huynh cũng như sự quản lý, lãnh đạo tốt của mỗi trường. Nếu mỗi người nhận thức được nỗ lực đổi mới trong phương pháp giảng dạy hôm nay để bắt đầu dựng xây môi trường giáo dục phù hợp với thời đại, để nuôi dưỡng và sản sinh ra những thế hệ công dân toàn cầu có tinh thần tự tin, tự chủ, năng động, sáng tạo, chúng ta sẽ thấy sự đổi mới này là vô cùng cần thiết, cần quyết tâm thực hiện.

Theo đánh giá của các nhà giáo dục, hạn chế lớn nhất của giáo dục Việt Nam qua nhiều thập kỷ đó là giáo dục một chiều, mệnh lệnh, áp đặt. Nền giáo dục nặng lý thuyết, nhẹ thực tế đã hình thành nên những thế hệ học sinh nhút nhát, thụ động, thiếu tự tin, thiếu kỹ năng sống. Những hạn chế này khi ngồi trên ghế nhà trường đã dẫn đến những hạn chế khi trưởng thành, tham gia vào thị trường lao động, đó là tính tự giác, chấp hành kỷ luật thấp, sức ỳ lớn, tính thực tiễn kém, tư tưởng bình quân chủ nghĩa... “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh” - đó là tinh thần của Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Với sự đổi mới cơ bản về phương pháp dạy và phương pháp học, nếu VNEN được hiểu đúng, thực hiện đúng, linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế cùng sự hết mình của đội ngũ nhà giáo, sự quan tâm, phối hợp của các bậc phụ huynh, giáo dục Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội đổi mới. Không phải là ước mơ quá xa vời, thế hệ măng non hôm nay sau 10 - 15 năm nữa sẽ trở thành những người lao động tự tin, tự giác, kỷ luật cao, khắc phục được những hạn chế của đội ngũ lao động hiện nay. Chúng ta sẽ không còn những cán bộ, công chức “sáng cắp ô đi, chiều cắp về” mà sẽ là một thế hệ mới không chỉ làm việc ở trong nước mà còn có khả năng và sự sẵn sàng tham gia thị trường lao động quốc tế.

Trần Hương - Ðặng Anh

 

 

  • Từ khóa