Thứ 3, 07/07/2026, 18:23[GMT+7]

Mầm chữ

Thứ 2, 25/12/2017 | 09:35:39
1,261 lượt xem
Cách đây 110 năm, năm 1907, Đình nguyên Hoàng giáp tiến sĩ Đào Nguyên Phổ, người làng Thượng Phán, tổng Đồng Trực, huyện Quỳnh Côi (nay là thôn Thượng Phán, xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ) cùng một số trí thức, sĩ phu yêu nước thành lập Trường Đông Kinh nghĩa thục tại Hà Nội, khởi đầu một phong trào yêu nước chống phong kiến, thực dân với phương thức mới, không đi theo lối mòn của các cuộc đấu tranh yêu nước từng có trong lịch sử.

Từ đường Đào Nguyên Phổ.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta chìm đắm trong đêm đen nô lệ, lạc hậu, để tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật của phương Tây như tên các loại thuốc và dược phẩm chữa bệnh, các loại máy móc, thiết bị ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… thì phải dùng chữ quốc ngữ trong giao dịch và thế là chữ Nho - một loại “tử ngữ” đã ăn sâu gốc rễ trong dân gian vốn chỉ dùng để viết các văn tự trong tế lễ hoặc sáng tác thơ văn… mà không thể dùng để giao dịch phải xóa bỏ, thay thế bằng chữ quốc ngữ. 

Đình nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ là nho sĩ tiên phong trong phong trào phổ biến chữ quốc ngữ. Ông vốn là tri huyện Võ Giàng (tên huyện thời vua Lê Thánh Tông, nay là một phần của huyện Quế Võ và thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) đã kết thân với nhiều nhà nho yêu nước, thời gian đó ở Kinh Bắc trỗi dậy phong trào yêu nước chống thực dân Pháp lan rộng ra các tỉnh đồng bằng sông Hồng, ông đã đem toàn bộ số tiền thuế đinh, điền của huyện Võ Giàng trong nửa năm ngấm ngầm trợ giúp phong trào. Bị thực dân Pháp phát hiện, ông rời bỏ “công môn” đi chu du thiên hạ. Lang thang vào kinh đô Huế, Đào Nguyên Phổ làm rể một viên quan Ngự sử trong thành nội. Thấy con rể có thực tài học thuật, viên quan Ngự sử động viên Đào Nguyên Phổ đi thi tiến sĩ. Năm 1898, khoa Mậu Tuất, niên hiệu Thành Thái thứ 10, ông thi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ, vì không có ai hơn điểm ông nên ông được mệnh danh là “Đình nguyên Hoàng giáp tiến sĩ” khi vừa tròn 38 tuổi.

Đào Nguyên Phổ khích lệ các nhà nho có tư tưởng tiến bộ bắt tay vào công việc truyền bá chữ quốc ngữ. Việc làm của nho sĩ trí thức tập trung vào chủ đích lớn như chí sĩ Ngô Đức Kế viết: “Thức tỉnh đồng bào, cốt nhằm cho nhân dân, quần chúng cả nước thấy rõ nguyên nhân vì đâu mà chúng ta sống trong tình trạng “người ngu, nước yếu”. Lớp nho sĩ tiến bộ, yêu nước trực tiếp đả kích cách học cũ, đầu óc “hủ nho” và lối văn chương bát cổ làm mê muội con người. Họ công kích những thói hư tật xấu và lên án chế độ phong kiến, chế độ quân chủ, nhắc nhở đến lịch sử cha ông, vạch rõ những thảm cảnh của đất nước lâm vòng nô lệ. Hướng đi của họ là nhằm cổ động cái học mới (tân học) và cổ động cho thực nghiệp. Và điều hiển nhiên, muốn phổ cập giáo dục thì phải dùng chữ quốc ngữ. Đông Kinh nghĩa thục cho ra cuốn sách có tính chất cương lĩnh “Văn minh tân học sách” trong đó nhấn mạnh: “Người trong nước đi học nên lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên để trong một thời gian vài tháng, đàn bà, trẻ con đều biết chữ và có thể dùng… Đó thực là bước đầu tiên để mở mang trí khôn vậy”. Đúng là nhờ biết chữ quốc ngữ mà tư duy, trí tuệ của người Việt được giải phóng bởi tư tưởng “hủ nho”; tiến những bước nhảy vọt hơn hẳn mấy nghìn năm trước. Không có chữ quốc ngữ thì các tư tưởng tiên tiến của Đông Kinh nghĩa thục sao có thể đến được quần chúng nhân dân. 

Năm 1917, học giả Phạm Quỳnh đưa ra nhận định: “Chữ quốc ngữ là công cụ giải phóng trí tuệ người Việt. Làm cho dân ta chấp nhận một loại chữ viết mới thay cho chữ Hán quen dùng hàng nghìn năm là một cuộc cách mạng lớn về văn hóa giáo dục. Hầu hết trí thức ở ta ngày ấy chỉ biết chữ Hán, thứ chữ viết bằng bút lông có vẻ cao sang. Giới hủ nho tẩy chay và chê bai chữ quốc ngữ viết bằng ngòi bút sắt… ”. Trước khi thành lập Đông Kinh nghĩa thục, được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm chức quan Thừa chỉ, một thời gian sau Đào Nguyên Phổ cảm thấy chán cảnh “danh còn, thực mất” ông đã làm sớ tâu lên triều đình xin nghỉ chức quan về Hà Nội làm chủ bút báo quán. Điều kiện làm báo đã giúp ông tiếp xúc với nhiều loại tài liệu, sách báo “tân văn”, “tân thư” từ hải ngoại gửi về, ông cùng các đồng nghiệp mạnh bước theo ngọn trào của tư tưởng Duy Tân. Lợi dụng diễn đàn báo chí, ông khéo léo tuyên truyền tư tưởng canh tân, khơi gợi lòng yêu nước trong nhân dân. Thực dân Pháp đánh hơi thấy những “ngầm ý” của Đào Nguyên Phổ trong nhiều bài báo của ông, chúng ra lệnh đóng cửa tòa báo, trực tiếp đe dọa, phỉnh nịnh và mua chuộc ông.

Sự hiện hữu của chữ quốc ngữ ở Việt Nam bắt đầu từ ngày 1/1/1882 khi chính quyền thực dân Pháp buộc người Việt ở Nam kỳ “phải dùng chữ quốc ngữ”. Căn cứ để thực dân Pháp bắt buộc người Việt phải dùng chữ quốc ngữ nằm trong nghị định ngày 6/4/1878 “về việc dùng tiếng An Nam bằng mẫu tự latin” do thống đốc Nam Kỳ Lafont ký, khẳng định: “Xét rằng chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự latin ngày nay đã khá phổ thông trong các tỉnh Nam Kỳ, là thứ chữ dễ học hơn chữ Nho và tiện lợi nhiều hơn so với chữ Nho trong việc làm cho những giao dịch giữa các quan cai trị với dân bản xứ được trực tiếp hơn”. Cho đến ngày 30/1/1882, thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers ra nghị định nhắc lại lần cuối cùng: “Kể từ ngày hôm nay, việc chỉ dùng những mẫu tự Pháp trở thành bắt buộc trên toàn cõi Nam Kỳ thuộc Pháp, trong những giấy tờ chính thức viết bằng tiếng An Nam”. Như vậy, từ ngày 1/1/1882, người Việt bắt đầu chính thức sử dụng thứ chữ viết từng được gọi là “chữ quốc ngữ; quốc ngữ hay tiếng An Nam dùng chữ Langsa”. Khởi đầu ký âm tiếng Việt bằng ký tự latin từ 1651 - 1861, chặng đường 210 năm chìm nổi của mẫu tự latin ký âm tiếng Việt “ngủ quên” trong cuộc sống xô dạt của Hán tự, một phần do giới trí thức nho học bỏ qua hoặc không để ý tới, một phần bị nghi kỵ thứ chữ của ngoại quốc, chữ quốc ngữ đành ngủ im, rồi những học trò chữ Việt như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký và tiếp nối là Đào Nguyên Phổ đã ươm mầm chữ làm cho chữ quốc ngữ hoàn chỉnh và truyền bá đến nhân dân nhanh hơn nhờ những bài báo in bằng chữ quốc ngữ.

Nhà giáo ưu tú Vũ Quốc Huệ, nguyên Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Quỳnh Phụ

Năm 1948, Bác Hồ gửi thư khen huyện Quỳnh Côi (nay là huyện Quỳnh Phụ) xóa được nạn mù chữ đầu tiên trong toàn quốc. Năm 1949, Thái Bình là một trong hai tỉnh thanh toán nạn mù chữ sớm nhất cả nước, vinh dự được Bác Hồ tặng sổ vàng lưu niệm. Cũng giống như Đông Kinh nghĩa thục do Đình nguyên Hoàng giáp tiến sĩ Đào Nguyên Phổ thành lập, hội truyền bá chữ quốc ngữ sau này đã phát động mở lớp học vào buổi tối với hình thức như các lớp mẫu giáo để tạo điều kiện cho học trò vì hầu hết họ là nhưng người nghèo, phải đi làm thuê. Học trò được cung cấp miễn phí các đồ dùng cần thiết như sách, vở, quản bút. Việc giảng dạy những khái niệm về chữ quốc ngữ theo phương pháp hợp lý hơn nên nhân dân dễ hiểu và ham học.
Ông Phạm Hóa, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Sau vài tháng thành lập, Đông Kinh nghĩa thục đã lan truyền tới Thái Bình, các sĩ phu yêu nước ở Thái Bình nhanh chóng cử người về Hà Nội theo sự chỉ dẫn của Đào Nguyên Phổ lấy sách báo và tài liệu về tuyên truyền, giảng dạy trong nhân dân. Cuộc đời chí sĩ Đào Nguyên Phổ thăng trầm muôn nỗi, từ việc ủng hộ phong trào yêu nước dẫn đến mất hàm tri huyện, từ bỏ quan Thừa chỉ đầy bổng lộc của triều đình để làm báo, tham gia phong trào Duy Tân và là một trong những yếu nhân thành lập Đông Kinh nghĩa thục, vượt lên tầm hạn chế của lịch sử trong giới hạn ý thức hệ phong kiến là một minh chứng cho tấm lòng sắt son của ông với đất nước.
Ông Đào Văn Duy, đại diện họ Đào làng Thượng Phán, xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ

Theo tài liệu của dòng họ thì vào năm 1908, sau vụ đầu độc binh pháp ở Hà Nội, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp phong trào Đông Kinh nghĩa thục, cụ Đào Nguyên Phổ nhà tôi may mắn thoát nạn bị bắt, giam cầm, tra tấn như một số yếu nhân vì lúc đó cụ tôi đi diễn thuyết. Khoảng một năm sau cụ tôi bị thực dân Pháp gài bẫy ở phố Hàng Than (Hà Nội), chúng vây bắt cụ, cụ giữ vững khí tiết của một chí sĩ quyết không rơi vào tay giặc nên đã uống thuốc độc tự tử, năm ấy cụ vừa tròn 48 tuổi.

Quang Viện